Địa Chỉ Số 50, ngõ 125 Nguyễn Ngọc Vũ, Cầu Giấy, Hà NộI
​​​​​​​Code 39 là một phiên bản hoàn hảo, khắc phục hết những khuyết điểm của mã EAN và UPC. Khuyết điểm của UPC và EAN là dung lượng có giới hạn và chỉ mã hóa được số, không mã hóa được chữ.

Tìm hiểu về code 39

Muốn biết tính chất hoạt động của code 39 ta vẫn phải biết về UPC và EAN. Phải biết hai loại mã này hoạt động thế nào mới có thể suy ra code 39.

Mã EAN là gì?

Mã vạch EAN được sử dụng nhiều hơn bất kỳ các mã vạch khác. Đây là mã vạch “ban đầu”, được tạo ra từ năm 1973. Kể từ khi kẹo cao su đầu tiên của Wrigley được truy xuất mã vạch, mã vạch GS1 mang tính biểu tượng đã được sử dụng để xác định hàng triệu mặt hàng thương mại (sản phẩm và dịch vụ) kể từ đó.

Được công nhận tại bất kỳ điểm bán lẻ bán lẻ nào, mã vạch EAN được quét bằng các máy quét đa hướng. Tức là chúng có thể đọc được các máy quét bằng tay phải hoặc ngược lại – làm cho chúng một mã vạch nhanh và hiệu quả cho các tình huống quét bằng khối lượng lớn như các siêu thị. Hiện EAN được sử dụng nhiều làm mã vạch sản phẩm, quản lý hàng hóa trên hệ thống được lập trình sẵn.

Đặc điểm

  • Được sử dụng để mã hóa số nhận dạng thương mại toàn cầu (GTIN).
  • Chứa 8 chữ số (EAN-8) hoặc 13 (EAN-13).
  • Chữ số cuối phục vụ như một số kiểm tra cho cả dãy số phía trước.
  • Dữ liệu bổ sung có thể được lưu trữ trong mã bổ sung EAN-2 hoặc EAN-5.
  • Nó đã được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn ISO / IEC 15420.

EAN là bước phát triển kế tiếp của UPC, về cách mã hóa nó cũng giống hệt như UPC nhưng về dung lượng nó gồm 13 ký số trong khi UPC là 12 ký số.

Mã EAN thông dụng

Mã UPC là gì?

Mã vạch mã UPC là một dạng mã vạch đặc biệt, Trong đó, phiên bản tiêu chuẩn (UPC-A), mã vạch bao gồm số nhà sản xuất năm số và số sản phẩm gồm năm chữ số. Ngoài ra còn có một số nhận dạng hệ thống số 1 ở đầu đoạn mã.

UPC code gồm có 2 phần: phần mã vạch mà máy có thể đọc được và phần số mà con người có thể đọc được.

Số của UPC gồm 12 ký số, không bao gồm ký tự. Đó là các mã số dùng để nhận diện mỗi một sản phẩm tiêu dùng riêng biệt

Cũng giống như các mã số mã vạch thông thường, UPC có hai thành phần chính, một là mã vạch để máy có thể đọc và phần mã số để con người đọc được. Để đọc được mã số, thì phải biết được cấu tạo của mã số, theo đó ta có:

  • Mã quốc gia: 3 số đầu
  • Mã doanh nghiệp : 4 đến 7 số tiếp theo
  • Mã sản phẩm: 4  đến 7 số tiếp
  • Số kiểm tra: số cuối cùng của mã vạch.

Mã UPC cùng với EAN là hai loại mã được các doanh nghiệp ứng dụng trong công nghệ truy xuất mã vạch sản phẩm. Nhờ khả năng mã hóa cao mà mọi thông tin bị giới hạn trên bao bì có thể được hiển thị đầy đủ, sinh động trên màn hình điện thoại qua ứng dụng quét mã iCheck Scanner.

Mã UPC thông dụng

Code 39 là bản hoàn hảo của UPC và EAN

Mã 39 được phát triển vào năm 1974, thiết kế ban đầu của bao gồm hai thanh rộng và một không gian rộng trong mỗi ký tự, dẫn đến 40 ký tự có thể. Đặt một trong các ký tự này làm mẫu bắt đầu và dừng còn lại 39 ký tự, đó là nguồn gốc của tên Mã 39.

UPC và EAN dù là 2 loại mã vạch có tính chất chuyên nghiệp và quốc tế nhưng khuyết điểm của nó là dung lượng có giới hạn và chỉ mã hóa được số, không mã hóa được chữ.

Code 39 được phát triển sau UPC và EAN là ký hiệu chữ và số thông dụng nhất. Nó không có chiều dài cố định như UPC và EAN do đó có thể lưu trữ nhiều lượng thông tin hơn bên trong nó. Do tính linh hoạt như vậy, Code 39 được ưa chuộng rộng rãi trong bán lẻ và sản xuất.

Bộ ký tự này bao gồm tất cả các chữ hoa, các ký số  từ 0 đến 9 và 7 ký tự đặc biệt khác. Nhiều tổ chức đã chọn một dạng thức Code 39 để làm chuẩn công nghiệp của mình trong đó đáng chú ý là Bộ Quốc Phòng Mỹ đã lấy Code 39 làm bộ mã gọi là LOGMARS.

Ngoài ra mã 39 vẫn được sử dụng bởi một số dịch vụ bưu chính và có thể được giải mã bằng hầu như mọi đầu đọc mã vạch. Một lợi thế của Mã 39 là vì không cần tạo số kiểm tra, nó có thể dễ dàng được tích hợp vào hệ thống in hiện có bằng cách thêm phông chữ mã vạch vào hệ thống hoặc máy in và sau đó in dữ liệu thô trong phông chữ đó.

Bình luận
Gửi ảnh Gửi
Chưa có bình luận
Mới nhất Quan tâm nhất
0 10 1
int(1) string(8) "/static/"